CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
SET FONT SIZE
  • •Increase font size•
  • •Default font size•
  • •Decrease font size•
Customise your homepage

menthanhgiadalat.net

Những Mục Tiêu của Năm Đời Sống Thánh Hiến

•E-mail• •Print• •PDF•

Những mục tiêu của Năm Đời sống thánh hiến

Mục tiêu thứ nhất là nhìn về quá khứ với niềm tri ân.

Mỗi Dòng của chúng ta đều đến từ một lịch sử phong phú của đặc sủng. Khởi đầu là tác động của Thiên Chúa, Đấng đã kêu gọi trong Thánh Linh một số người đi theo sát gót Đức Kitô, để chuyển dịch Tin mừng ra một lối sống đặc thù, để đọc các dấu chỉ thời đại với cặp mắt đức tin, để đáp ứng với những nhu cầu của Giáo hội một cách sáng tạo. Thế rồi kinh nghiệm khởi đầu được tăng tiến và phát triển, lôi cuốn những phần tử sống trong những khung cảnh mới của địa lý và văn hóa, tạo ra những thể thức mới để thể hiện đặc sủng, những sáng kiến và những lối diễn tả lòng bác ái tông đồ mới mẻ, cũng tựa như hạt giống trở thành một cây lớn với nhiều cành lá xum xê.

Trong Năm nay, mỗi gia đình đặc sủng hãy nhớ lại buổi khởi đầu của mình và những chặng phát triển trải qua lịch sử, để tạ ơn Thiên Chúa vì Ngài đã ban cho Hội thánh biết bao hồng ân để trang điểm cho Hội thánh và chuẩn bị sẵn sàng để thi hành mọi công cuộc tốt lành (x. Lumen gentium, 12).

Thuật lại lịch sử của mình là điều cần thiết để duy trì căn tính cũng như để siết chặt mối hợp nhất của gia đình và tăng thêm cho các phần tử ý thức mình thuộc về một nhà. Đây không phải là chuyện khảo cổ hoặc luyến tiếc dĩ vãng, nhưng là đi lại con đường của các thế hệ quá khứ để nắm bắt được tia sáng gợi hứng, những lý tưởng, những dự phóng, những giá trị đã thúc đẩy họ, bắt đầu từ các vị sáng lập và các cộng đoàn tiên khởi. Đó cũng là một cách để ý thức được cách thức mà tiền nhân đã sống đặc sủng, những bước đột phá, những khó khăn đã đương đầu và vượt qua. Ta cũng có thể nhận ra những sự bất nhất do tính yếu đuối của con người, thậm chí kể cả có lúc quên mất những khía cạnh cốt yếu của đặc sủng. Tất cả các khía cạnh ấy đều là những bài học, và đồng thời kêu gọi hoán cải. Thuật lại lịch sử của mình là một cách để chúc tụng Thiên Chúa và tạ ơn vì những ân huệ mà Ngài đã ban.

Cách riêng chúng ta cảm tạ Thiên Chúa vì 50 năm tiếp theo công đồng Vaticanô II. Công đồng thật là một “luồng gió” của Thánh Linh cho toàn Giáo hội. Nhờ công đồng, đời tu sĩ đã thực hịên một bước đường canh tân phong phú, với những ánh sáng và bóng tối của nó, dù sao đó là thời điểm của ân huệ được đánh dấu bởi sự hiện diện của Thánh Linh.

Ước chi Năm Đời sống thánh hiến cũng là một cơ hội để thú nhận sự mỏng dòn của mình, với lòng khiêm tốn cũng với lòng tín thác vào Thiên Chúa Tình yêu (1Ga 4,8), và để sống kinh nghiệm về tình thương lân tuất của Chúa, một cơ hội để thôi thúc mạnh mẽ và làm chứng vui vẻ về sự thánh thiện và sức sống đang hiện diện nơi phần lớn những kẻ được kêu gọi đi theo Đức Kitô trong đời sống thánh hiến.

(Tông thư của Đức Thánh Cha Phanxicô gửi tất cả Các người Tận hiến nhân dịp Năm Đời sống thánh hiến, ngày 21.11.2014, bản dịch tiếng Việt của Lm Phan Tấn Thành op).

< >

Toà Thánh công nhận dòng MTG

1, Nghị định « Ut confraternitatibus » năm 1678.

Đây là quyết định của Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, khi ủy ban đặc biệt của Thánh Bộ nhóm họp ngày 28.08.1678 :

« Các ân xá thông thường được ban cho các Huynh Đoàn, do các Đại diện Tông tòa thiết lập tại Đàng Ngoài và Đàng Trong, dưới tên gọi là Mến Thánh Giá, ở các nơi thuộc quyền các ngài, tức là :

- Ân toàn xá vào ngày gia nhập, vào một ngày lễ trọng do vị Đại diện Tông tòa chỉ định, và vào lúc lâm tử ;

- Và những ân xá riêng khác vào các lễ Hiển Linh, Truyền Tin, các lễ thánh Phêrô và Phaolô, Thiên Thần bản mệnh, và còn cho chung trên các nhiệm vụ và việc đạo đức đã quy định mà các thành viên Huynh Đoàn quen thực hành. »[1]

2, Sắc lệnh « Cum sicut » năm 1679.

Ngay vào đầu năm 1679, ngày 02.01, Đức Thánh Cha Innôcentê XI ký một sắc lệnh ban ân xá cho các Hiệp Hội Mến Thánh Giá. Và đó là nhờ sự vận động trực tiếp của Đức cha Pallu tại Rôma.

2,1 : Nhập đề :

Sắc lệnh mang tên « Cum sicut » này gồm 4 phần. Phần đầu tiên nói lên sự nhìn nhận việc thành lập các Huynh Đoàn mang tên gọi « Mến Thánh Giá » do các vị Đại diện Tông toà thực hiện.

« Như người anh em đáng kính François, Giám mục hiệu tòa Héliopolis, là một trong những vị Đại diện Tông tòa mà Tòa Thánh đã cử sang Trung Hoa, vừa trình bày cho Ta, các vị đại diện nói trên đã thiết lập phù hợp theo giáo luật (canonice) tại Đàng Trong và Đàng Ngoài những Huynh Đoàn các Kitô hữu (Christifidelium Confraternitates) sốt sắng và đạo đức thuộc hai phái nam nữ, dưới tên gọi là Mến Thánh Giá (Amatorum Crucis) ; hoặc là các ngài đã cẩn thận trao phó cho các linh mục đại diện của các ngài thiết lập. Các thành viên nam và nữ đã quen thực hành rất nhiều việc đạo đức và bác ái Kitô giáo, nam nữ riêng biệt nhau, theo những luật lệ đã lập ra cách thích hợp. Và các vị đại diện nói trên có ý hướng thiết lập các Huynh Đoàn khác, theo cùng một cách thức, dưới cùng một danh hiệu và cùng những luật lệ, trong những vương quốc Trung Hoa, Đàng Ngoài, Đàng Trong và Xiêm La, và trong những xứ khác đã được trao phó cho các ngài quản trị, vì danh Chúa và vì phần rỗi các linh hồn. »

2,2 : Ân toàn xá :

Phần hai của sắc lệnh trình bày 3 ân toàn xá mà Đức Giáo Hoàng Innôcentê XI ban cho các thành viên Mến Thánh Giá :

- Ân toàn xá vào ngày gia nhập Huynh Đoàn Mến Thánh Giá.

- Ân toàn xá vào lúc cận tử.

- Ân toàn xá ban vào những ngày lễ do các Đại diện Tông toà quy định.

Sắc lệnh tuyên bố :

« Để cho các Huynh Đoàn này phát triển lớn hơn qua từng ngày, tin tưởng vào lòng nhân lành của Chúa và vào quyền bính hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, Ta ban ân toàn xá cho tất cả những tín hữu nam nữ sẽ gia nhập những Huynh Đoàn nói trên đã được thiết lập cho tới nay và trong tương lai, bởi các vị Đại diện Tông tòa đã nói hay bởi các linh mục đại diện của các vị ấy, trong địa hạt giáo phận riêng của các ngài, phù hợp theo giáo luật, vào ngày họ gia nhập, nếu họ đã thực sự sám hối và xưng tội, cùng lãnh nhận bí tích Thánh Thể.

Vào lúc cận tử, nếu họ đã thực lòng sám hối và xưng tội, cùng rước Mình Thánh Chúa, hoặc, nếu không thể làm được sự ấy, ít nữa họ phải có lòng ăn năn tội, sốt sắng kêu tên Chúa Giêsu, nếu không thể bằng miệng thì trong lòng, họ cũng được hưởng ân toàn xá.

Bây giờ và suốt đời các thành viên nam nữ các Huynh Đoàn trên, với lòng sám hối và xưng tội cùng chịu lễ, hằng năm họ kính viếng cách sốt sắng các nhà thờ hay nhà nguyện của Huynh Đoàn vào những ngày lễ do các vị Đại diện Tông toà hoặc các linh mục đại diện của các ngài ấn định, kể từ giờ kinh chiều cho tới khi mặt trời lặn cùng ngày, cầu nguyện cho sự hoà thuận giữa các vị lãnh đạo Kitô giáo, cho việc diệt trừ các kẻ lạc giáo và tán dương Hội Thánh Mẹ chúng ta, Ta ban cho họ cũng theo thể thức ấy, với tình yêu thương trong Chúa, ơn tha tội và ơn toàn xá tất cả mọi tội lỗi của họ. »

2,3 : Ân tiểu xá :

Sau ba ân toàn xá nói trên, Đức Giáo Hoàng Innôcentê XI ban các ân tiểu xá cho thành viên Mến Thánh Giá :

« Hơn nữa, các thành viên nam nữ có lòng sám hối và xưng tội cùng chịu lễ, vào bốn ngày lễ khác trong năm, kính viếng nhà thờ hay nhà nguyện do các vị Đại diện Tông toà hay các linh mục đại diện của các ngài chỉ định theo cách thức như trên, thì được hưởng ân xá 7 năm và 40 ngày cho mỗi lần. »

Sau ân xá 7 năm và 40 ngày, tiếp theo là các ân xá 60 ngày :

« Mỗi khi họ tham dự Thánh lễ hay kinh phụng vụ cử hành trong những nhà thờ hay nhà nguyện đã nói, cách công khai hay riêng tư của Huynh Đoàn ;

hay khi họ đón tiếp người nghèo hoặc khi họ đem hoà bình đến cho các kẻ thù nghịch nhau, hay đoàn tụ họ lại với nhau, hay lo chăm sóc họ ;

cũng như khi họ dự lễ an táng các thành viên đồng hội hay người nào khác theo nghi thức Giáo Hội ;

hay khi tham dự vào cuộc rước với phép của các vị Đại diện Tông toà hay các linh mục đại diện của các ngài, các thành viên theo kiệu Thánh Thể cũng như khi Mình Thánh Chúa được đem cho bệnh nhân, bất kỳ ai và bất kỳ lúc nào ; nếu họ bị ngăn trở, họ đọc một lần kinh Truyền Tin ngày Chúa Nhật lúc nghe tiếng chuông báo hiệu ;

hay, họ đọc năm lần kinh Truyền Tin ngày Chúa Nhật cho linh hồn các thành viên nam nữ đã qua đời ;

hay, họ đem một người lầm lạc về đường cứu rỗi, và họ dạy bảo những kẻ mê muội các giới răn Thiên Chúa cùng những sự cần thiết cho phần rỗi ;

hay, họ làm việc đạo đức hoặc việc bác ái nào đó.

Cho mỗi lần và mỗi một việc nói trên, Ta ban cho họ theo thể thức quen thuộc trong Giáo Hội, 60 ngày ân xá việc đền tội mà họ phải chịu cách này hoặc cách nọ. »

2,4 : Kết thúc :

Sắc lệnh được kết thúc với những công thức hành chính quen thuộc của loại văn thư giáo triều Rôma : Sắc lệnh xác định rằng những ân xá nói trên (toàn xá và tiểu xá) có giá trị vĩnh viễn. Nếu có những ân xá đã được ban cho các thành viên Mến Thánh Giá trước đây, những ân xá đó đều bị huỷ bỏ. Nếu những Huynh Đoàn Mến Thánh Giá nói đây biến thành huynh đoàn nào khác, sắc lệnh ban ân xá này phải được coi như vô giá trị.

« Ban hành tại Rôma, nơi đền Thánh Phêrô, với con dấu nhẫn ngư phủ, ngày 02.01.1679, năm thứ 3 triều đại giáo hoàng của Ta. »[2]

< >

Những công đồng tại Việt Nam và dòng MTG

Danh sách các công đồng tại Việt Nam :

- Năm 1670 : công đồng Phố Hiến (hay Đàng Ngoài I).

- Năm 1672 : công đồng Hội An I.

- Năm 1682 : công đồng Hội An II.

- Năm 1753 : công đồng Lục Thủy (hay Đàng Ngoài II).

- Năm 1795 : công đồng Kẻ Vĩnh.

- Năm 1841 : công đồng Gò Thị.

- Năm 1900 : công đồng Kẻ Sặt.

- Năm 1912 : công đồng Kẻ Sở.

- Năm 1934 : công đồng Đông Dương.

Các công đồng này đã nói gì về dòng MTG ?

1, Năm 1670 : công đồng Phố Hiến (hay Đàng Ngoài I) :

Đây là công đồng do ĐC Lambert triệu tập tại Phố Hiến (Nam Định) ngày 14.02.1670. Văn kiện công đồng này gồm phần nhập đề và 34 điều khoản khác nhau. Điều duy nhất nói tới dòng Mến Thánh Giá là điều số 18 như sau :

« Các vị quản trị tỉnh hạt cũng hãy quan tâm nhiều tới các trinh nữ và quả phụ đã tự nguyện quyết định giữ sự tiết dục, dâng mình phụng sự Thiên Chúa và sống chung thành cộng đoàn, theo bản quy luật do chúng tôi ấn định cho mục đích ấy. » [3]

Khi Toà Thánh duyệt xét văn kiện công đồng Phố Hiến, Toà Thánh đã loại bỏ đi những chữ sau : « theo bản quy luật do chúng tôi ấn định cho mục đích ấy ».

2, Năm 1672 : công đồng Hội An I.

ĐC Lambert đến Đàng Trong lần thứ nhất vào năm 1671. Ngài lập dòng MTG tại giáo xứ An Chỉ (Quảng Ngãi) vào khoảng trước lễ Giáng Sinh năm 1671. Sau đó, ngài tới Hội An và triệu tập một công đồng tại đây, ngày 19.02.1672.

Văn kiện công đồng Hội An gồm phần nhập đề và 10 điều khoản. Dòng MTG không hề được đề cập tới trong văn kiện công đồng. Mặt khác, hiệp hội Các Tín Hữu Nam Nữ MTG cũng không bao giờ được lập ra tại Đàng Trong.

3, Năm 1682 : công đồng Hội An II.

ĐC Lambert từ trần ngày 15.06.1679 tại Xiêm La, giáo phận Đàng Trong do cha chính Courtaulin điều hành.

Năm 1682, ĐC Laneau từ Xiêm La sang kinh lý Đàng Trong. Nhân dịp này, ngài truyền chức giám mục cho cha Mahot và triệu tập một công đồng tại Hội An ngày 23.10.1682. Lịch sử gọi là công đồng Hội An II. Văn kiện công đồng này nói tới dòng MTG dưới tên « Các hiệp hội MTG » (Confraternitates Amatorum crucis) bằng một lời ngắn gọn như sau :

« Các hiệp hội MTG và Rất Thánh Mân Côi sẽ được thành lập tại mỗi tỉnh hạt, tuỳ nơi và tuỳ thời thuận tiện. »[4]

4, Năm 1753 : công đồng Lục Thủy (hay Đàng Ngoài II).

Năm 1753, ĐC Hilario Hy, đại diện tông toà giáo phận Đông Đàng Ngoài, triệu tập một công đồng tại giáo xứ Lục Thuỷ (Bùi Chu). Các vị tham dự công đồng gồm các đại biểu của cả hai giáo phận Tây và Đông Đàng Ngoài lúc đó. Công đồng này đã nói rất nhiều tới các nữ tu dòng Mến Thánh Giá. Trong 28 nghị định được biểu quyết tại công đồng, có tới 7 nghị định trực tiếp về các nữ tu dòng MTG.

5, Năm 1795 : công đồng Kẻ Vĩnh.

Công đồng Kẻ Vĩnh là công đồng giáo phận Tây Đàng Ngoài, do ĐC Longer Gia triệu tập vào tháng 10 năm 1795. Công đồng này đã ra « 11 phép cho Dòng Mến Câu Rút ».

6, Năm 1841 : công đồng Gò Thị.

ĐC Cuenot Thể đã triệu tập tại Gò Thị (Qui Nhơn) một công đồng cho giáo phận Đàng Trong. Công đồng này nói tới các nữ tu Mến Thánh Giá với những từ ngữ thời đó như : viện nữ tu, trinh nữ, trinh viện, nhà phúc, người nhà phúc, họ ven nhà phúc. Công đồng chỉnh đốn nghiêm nghị việc các linh mục tiếp xúc với nữ tu Mến Thánh Giá, ví dụ : « Thầy một mình chớ vào viện nữ tu ».

Văn kiện công đồng được xuất bản thành sách, tựa đề : Công Luận Gò Thị, được ấn hành tại Sài Gòn, năm 1890.

7, Năm 1900 : công đồng Kẻ Sặt.

Công đồng Kẻ Sặt năm 1900 là công đồng cho cả hai giáo phận Tây và Đông Đàng Ngoài. Công đồng đã nói tới dòng MTG và dòng Ba Đa Minh là « hai thứ dòng nữ người bản cuốc ». Công đồng ra 14 điều kỷ luật cho cả hai dòng nữ ấy.

Văn kiện công đồng được xuất bản trong sách : Synodo Tunquinensê. Công đồng hội lần thứ nhất. Miền Bắc Kỳ (Đàng Ngoài trong nước Annam), năm 1900. In tại Kẻ Sở, 1906.

8, Năm 1912 : công đồng Kẻ Sở.

Như công đồng Kẻ Sặt năm 1900, công đồng Kẻ Sở năm 1912 là công đồng cho cả hai giáo phận Tây và Đông Đàng Ngoài. Công đồng đã nói tới dòng MTG và dòng Ba Đa Minh cùng ra 17 điều kỷ luật cho cả hai dòng nữ ấy.

Văn kiện công đồng được xuất bản trong sách : Synodus Tunquinensis, Công Đồng Miền Bắc Kỳ, hội tại Kẻ Sở năm 1912, cùng Appendices, in tại Kẻ Sở, 1915.

9, Năm 1934 : công đồng Đông Dương.

Năm 1934, các giám mục Việt Nam, Lào, Cam Bốt và Thái Lan họp công đồng tại Hà Nội, từ ngày 18.11 tới ngày 06.12, gọi là công đồng Đông Dương. Công đồng đã long trọng nhìn nhận công lao của 2 hội dòng người bản xứ là dòng Mến Thánh Giá và dòng Ba Đa Minh bằng những lời như sau :

« Không ai mà không biết tới công trạng cao cả của các trinh nữ và các phụ nữ này đã thực hiện trong quá khứ và trong những thời bắt đạo. Họ là những người tuyên giữ một luật lệ thánh thiện và khổ hạnh » (Điều 104).

Liền ngay sau tuyên bố trên, công đồng đã nêu ra dự án cần thực hiện cho các hội dòng Mến Thánh Giá và dòng Ba Đa Minh. Đó là giúp cho các nữ tu được tuyên khấn theo quy định của giáo luật (1917) hầu họ trở nên những tu sĩ đích thực theo ý muốn của Toà Thánh. Công đồng dạy :

« Vì những điều kiện đã thay đổi và hòa bình được đem lại cho Giáo Hội, Tòa Thánh mong muốn rằng đời sống tu trì với những lời khấn, như Đấng Sáng Lập Dòng Mến Thánh Giá đã quy định, được đem vào những cộng đoàn này » (Điều 105).

« Công đồng khen ngợi những đấng bản quyền nào đã thực hiện thành công cuộc cải tổ, và công đồng khuyến khích các vị khác, trong giáo phận mình, liệu sao có một hội dòng thuộc giáo phận từ những cộng đoàn đó, với nhà tập duy nhất và các lời khấn dòng, ban đầu thì tạm thời, sau thì vĩnh viễn, theo như giáo luật đã quy định » (Điều 106).

Văn kiện của công đồng Đông Dương (bằng tiếng la-tinh) được xuất bản trong sách : Primum Concilium Indosinense, Anno 1934, Nội, Trung Hoà, 1938.

< >

Văn kiện thành lập dòng Mến Thánh Giá năm 1670

(Bản dịch của Nhóm Nghiên Cứu)

Bức Luân Thư.

Chị em thân mến,

1 Từ khi Cha đến vương quốc này, một trong những công việc quan trọng nhất của Cha là tìm hiểu chính xác tình trạng Giáo Hội tại đây. 2 Theo báo cáo đã gửi cho Cha, Cha hết sức vui mừng được biết các con đã tận hiến cho Thiên Chúa cách đặc biệt. 3 Sự cam kết đó là một dấu chứng hiển nhiên về lòng thương xót rất đặc biệt của Thiên Chúa đối với các con. 4 Vậy nên điều chính đáng là các con tỏ lòng tri ân Người hơn những kẻ khác không được ơn cao trọng như thế. 5 Chính vì nhận định thiết tha như vậy, nên Cha nảy ý kiến muốn đề nghị với các con một lối sống, mà Cha nhận thấy rất thuận lợi để làm sáng danh Người. 6 Cha có thể quả quyết với các con rằng, trước khi được biết hay nghe nói gì về các con, thì từ lâu Cha đã nghe được lời mời gọi khẩn thiết trong nội tâm phải viết lối sống đó ra, để làm ích cho một số linh hồn được Thiên Chúa yêu dấu cách phi thường. 7 Nay được biết các con, Cha càng thêm tin tưởng để dạy cho các con lối sống đó. 8 Vậy xin các con hãy nhận lấy lối sống này như từ Thiên Chúa mà đến, hơn là từ Cha. 9 Và hãy tin chắc rằng, nếu các con muốn đi theo con đường trọn lành này, thì các con sẽ đạt tới mức độ rất cao, trong sự hiểu biết và yêu mến Đức Giêsu-Kitô. Đó là điều làm nên tất cả hạnh phúc đời này và đời sau.

Luật Tiên Khởi.

Giáo đầu.

1 Vì ý định của Con Thiên Chúa khi chịu chết để cứu rỗi nhân loại, là đòi buộc mọi người phải chết đi đối với chính mình, và chỉ sống cho Chúa, theo giáo huấn của Thánh Phaolô viết cho giáo hữu Côrintô: “Đức Kitô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống, không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình” (2Cr 5,15). 2 Bổn phận của chủ chăn, cách riêng trong một Giáo Hội phôi thai, là truyền bá chân lý rất ít người biết đó cho tất cả Kitô hữu. 3 Chính trong quan điểm này, đã từ nhiều năm, chúng tôi tìm tòi những phương thế có thể dẫn đưa các tín hữu đến công cuộc cao cả như vậy. 4 Và chúng tôi cảm thấy nên thiết lập ở khắp mọi điạ sở thuộc các miền truyền giáo của chúng tôi một Dòng gồm những người Yêu Mến Thánh Giá Chúa Giêsu-Kitô, chuyên chú suy niệm và chia sẻ những nỗi khổ đau của Người hằng ngày trong suốt cuộc đời. 5 Một số phụ nữ đạo đức ở Đàng Ngoài, từ lâu đã tự nguyện khấn giữ đức Khiết tịnh, khi nghe biết nếp sống ấy thì nghĩ rằng, đối với muôn vàn ân huệ Thiên Chúa ban, họ không có cách gì làm đẹp lòng Người hơn là gia nhập Hiệp Hội thánh thiện này. 6 Chính vì tình yêu Chúa Giêsu-Kitô thúc bách (x.2Cr 5,14), họ tỏ rõ lòng nhiệt thành muốn biết phải làm thế nào để hoàn toàn hiến thân phụng sự Thiên Chúa. 7 Đây là phương thế Chúa Quan Phòng đã dùng để đặt nền tảng đầu tiên cho đời sống tu trì ở Đàng Ngoài và thành lập một tu hội đặc biệt, mang danh hiệu Dòng Nữ Mến Thánh Giá Đức Giêsu-Kitô Chúa chúng ta.

Mục đích của tu hội.

Mục đích của tu hội này là đặc biệt chuyên chú tưởng nhớ và noi theo cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu-Kitô mỗi ngày như phương thế thuận lợi nhất để đạt tới sự hiểu biết và yêu mến Người.

Các Nhiệm Vụ Của Tu Hội.

1 Tất cả những người đi theo nếp sống này phải liên lỉ kết hợp nước mắt, việc suy gẫm cầu nguyện và hãm mình đền tội với công nghiệp của Đức Kitô, để cầu xin Thiên Chúa ban ơn ăn năn trở lại cho lương dân trong ba miền truyền giáo thuộc quyền các Vị Đại Diện Tông Toà, cách riêng ở Đàng Ngoài .

2 Dạy các thiếu nữ, giáo cũng như lương, những điều nữ giới cần biết. Nếu vì tình huống hiện tại xảy  đến cho đạo thánh không thể làm được, chị em phải nhớ rằng, khi hoàn cảnh cho phép, thì đó là một trong những nhiệm vụ chính của mình.

3 Săn sóc những phụ nữ, thiếu nữ đau ốm bệnh hoạn cả giáo lẫn lương. Nhờ cơ hội đó, khuyên bảo họ lo phần rỗi và trở lại với Chúa.

4 Cố gắng rửa tội cho những trẻ nhỏ lâm cơn nguy tử, kẻo chúng chết mà không được nhận ơn Thánh tẩy.

5 Dùng mọi cách kêu gọi những phụ nữ và thiếu nữ truỵ lạc trở về nếp sống lương thiện.

Quy Tắc.

Điều 1: Những chị em nhận thấy mình được Thiên Chúa kêu gọi vào Tu Hội này, sẽ tuyên ba lời khấn: Nghèo Khó, Vâng Phục và Khiết Tịnh. Trước khi khấn, phải qua hai năm thử.

Điều 2: Số chị em ở mỗi nhà trong hoàn cảnh hiện tại không được quá mười người, kể cả chị Bề Trên.

Điều 3: Chị Bề Trên và các chị giữ nhiệm vụ khác sẽ do chúng tôi hoặc Cha Tổng Đại Diện của chúng tôi tuyển chọn sau khi tham khảo ý kiến Cha Quản trị tỉnh hạt, nơi các chị em ở.

Điều 4: Về đời sống tinh thần, chị em phải tùy thuộc Cha Quản Trị tỉnh hạt nơi mình ở, và hằng năm báo cáo với Ngài về tài sản vật chất.

Điều 5: a Chị em được miễn giữ nội vi do nhiệm vụ đặc biệt phải chăm lo phần rỗi người khác theo mục đích của Tu hội, nên chị em cứ đi ra làm nhiệm vụ đó, nhưng phải có phép của Chị Bề Trên. b Chị Bề Trên khi cử ai đi đâu, phải cho một chị khác cùng đi.

Điều 6: a Ngoài thời giờ dành để phục vụ tha nhân, tất cả chị em phải chăm lo làm việc tay chân, trừ những ngày Chúa Nhật và lễ buộc. b Trong những ngày ấy, chị em lần chuỗi Mân Côi kính Đức Trinh Nữ và dành nửa giờ đọc sách thiêng liêng và truyện các thánh hay sách đạo đức khác.

Điều 7: Chị em ngưng mọi việc vào lúc 9giờ 30 phút tối, xét mình mười lăm  phút về các việc trong ngày và đọc kinh chung mười lăm phút, sau đó đi ngủ.

Điều 8: a Chị em thức dậy lúc 4 giờ sáng để cầu nguyện, bắt đầu bằng những kinh giáo hữu quen đọc ngày Chúa Nhật. b Rồi, dành một giờ suy niệm về một trong những bài gẫm chúng tôi đã soạn về cuộc Thương Khó và Cái Chết của Đức Giêsu- Kitô Chúa chúng ta, do chị Bề Trên, hoặc người thay mặt đọc cho chị em nghe. c Sau đó, chị em đọc kinh Cầu Các Thánh, kinh Cáo Mình, kinh Xin Chúa Xót Thương. Tiếp theo, chị em đọc lời tiền xướng Chúa Kitô đã vâng lời cho đến chết và chết trên Thập Giá, và còn lặp lại lời tiền xướng đó lần nữa sau khi đọc thánh vịnh Sám Hối (Tv 50). d Trong khi đọc thánh vịnh Sám Hối và lời nguyện Xin Chúa Đoái Xem, chị em phải đánh tội để nhớ đến những cực hình đau khổ Con Thiên Chúa đã chịu, dâng sự hy sinh nhỏ bé ấy kết hợp với những ý hướng và  mục tiêu của Chúa khi Người chịu những đau khổ đó. Chính Người cũng muốn rằng chúng ta phải có những tâm tình như Người. đ Nếu có lý do nào cản trở sự làm việc đền tội chung hay theo cách thức như thế, chị em có thể thanh thoả nhiệm vụ này bằng cách mang một thứ giây xích, hay theo ý cha giải tội làm một việc đền tội khác tương đương.

Điều 9: Chúa Nhật lễ Lá và bốn ngày sau, chị em làm việc đánh tội gấp đôi và ngày Thứ Sáu Tuần Thánh làm gấp ba, để tôn kính đặc biệt hơn cuộc Thương Khó của Chúa, nhất là tôn kính ngày Con Thiên Chúa Chịu Đóng Đinh Thập Giá và Chịu Chết vì tất cả chúng ta .

Điều 10: Chị em phải có lòng sùng kính đặc biệt đối với những ngày lễ Cắt Bì, Tìm Thấy Thánh Giá và Suy Tôn Thánh  Giá.

Điều 11: Chị em chỉ ăn hai bữa mỗi ngày: sáng và chiều, kiêng thịt suốt đời trừ các ngày lễ Giáng Sinh, Phục Sinh và Hiện Xuống.

Điều 12 : Chị em ăn chay mọi ngày thứ  sáu để kính nhớ cuộc Thương Khó và Cái Chết của Chúa Giêsu-Kitô: những ngày ấy cũng như những ngày chay do luật Hội Thánh buộc, chị em sẽ không ăn trước mười giờ sáng.

Điều 13: a Những phụ nữ và thiếu nữ hối cải muốn gia nhập Tu hội này, cũng theo một mục đích, làm những công việc, chu toàn những nhiệm vụ và tuân giữ các quy tắc đúng như trên, nhưng ở trong một nhà và một cộng đoàn tách biệt. b Bề trên thì bao giờ cũng phải chọn trong số những người giữ đức Khiết Tịnh nguyên tuyền.

Điều 14: Thánh Giuse được nhận làm Bổn Mạng của Tu hội này, hãy nhờ Người chuyển cầu mà xin Thiên Chúa ban ơn cho Tu hội được thiết lập, tiến triển và hoàn thiện.

Kết Luận.

1 Chúng tôi Giám Mục Hiệu Toà Bérythe, Đại Diện Tông Toà đã ấn định bản quy luật trên đây, để giúp ích cho các phụ nữ và thiếu nữ: những người luôn sống thanh khiết hoặc những người hối cải sau khi sa ngã, đã khấn giữ đức Khiết Tịnh trước đây hoặc sẽ khấn sau này, trong vương quốc Đàng Ngoài và mọi nơi thuộc ba miền truyền giáo Trung Hoa. 2 Chúng tôi hoàn toàn sẵn lòng đệ trình bản quy luật ấy để Toà Thánh xét định và kiểm duyệt, vì chỉ Toà Thánh có quyền phê chuẩn hay bác bỏ những dự tính như vậy.

Bức Tâm Thư

1 Chúng tôi, Phêrô Lambert, Giám Mục Hiệu Toà Bérythe, Đại Diện Tông Toà, do ơn Thiên Chúa và Toà Thánh Tông Truyền, gửi lời chào và phép lành đến quý chị Anê và Paula thân mến, là hai nữ tu đầu tiên gia nhập Tu hội Chị em Mến Thánh Giá Chúa Giêsu-Kitô.

2 Sau khi các con tuyên khấn công khai vào ngày Lễ Tro, trước sự hiện diện của Cha, đáng lẽ như lòng ao ước, Cha còn phải nói với các con đôi lời về bậc sống cao trọng và sự trọn lành mà các con nhắm tới, theo tiếng gọi của Thiên Chúa từ bi nhân hậu. 3 Nhưng ngày hôm ấy, Cha gặp tình thế bó buộc phải đi ngay để kịp chuyến trở về, 4 nên Cha đã có ý viết mấy lời này, để bảo cho  các con biết rằng các con không còn thuộc về mình nữa, nhưng hoàn toàn thuộc về Chúa Giêsu-Kitô, vì các con đã hiến thân trọn vẹn cho Người, 5 để từ nay chỉ chuyên chú tìm hiểu và yêu mến Người bằng cách suy niệm và noi theo cuộc đời đau khổ của Người, cùng thực thi các nhiệm vụ của Tu hội. 6 Cha hết sức khuyên các con hãy trung tín với những nhiệm vụ trên, vì biết chắc chắn nhờ đó các con và cả Giáo Hội này sẽ lãnh nhận lợi ích lớn lao. 7 Cha cũng nhắn nhủ cách rất đặc biệt, các con hãy hết sức chăm sóc các tập sinh, xem họ như  những kho tàng thánh thiêng mà Thiên Chúa ký thác trong tay các con. 8 Hãy nhớ năng khắc ghi vào tâm trí họ điều này: Mục đích chính của Tu hội các con, là tiếp nối nơi bản thân mình cuộc đời đau khổ của Chúa Giêsu-Kitô và hằng ngày phải dâng việc suy gẫm cầu nguyện, nước mắt, các việc làm và mọi hy sinh để cầu xin Người ban cho lương dân và giáo hữu tội lỗi ơn ăn năn trở lại. 9 Nhưng điều quan trọng nhất, là các con phải thực hành mọi việc thay cho Chúa Giêsu-Kitô; Người muốn đích thân làm những việc ấy mà không thể được, nên dùng một số tâm hồn do Người tuyển chọn mà ban đầy tinh thần của Người là tinh thần trung gian, để tiếp nối cuộc đời lữ thứ và hy sinh của Người cho đến tận thế.

10 Các con là những nữ tu thân mến của Cha, chắc hẳn các con nhận thấy được rằng, ơn gọi của mình thật là cao cả và các con đã chết đi đối với thế gian, nghĩa là đối với giác quan, bản tính tự nhiên và lý trí người đời, để từ nay chỉ còn sống bằng giáo huấn, gương sáng và sự sống  của Chúa Giêsu-Kitô.

11 Cha xin các con hãy luôn luôn suy nghĩ về điều đó và đừng quên Cha trước mặt Thiên Chúa.

Tại Cửa Khẩu Đàng Ngoài, ngày 26 tháng 2 năm 1670.

Đức cha Lambert viết về dòng Mến Thánh Giá

Ba bản văn của văn kiện thành lập dòng Mến Thánh Giá là những bản văn duy nhất mà ĐC Lambert viết cho các nữ tu MTG. Ngoài ra, không có bản văn nào khác của ngài viết cho các nữ tu MTG nữa. Còn những bản văn ngài viết về dòng MTG, chúng ta tìm lại được những bản văn sau :

1, Năm 1667 : Thư gửi ĐC Pallu.

Trong một lá thư ĐC Lambert viết cho ĐC Pallu, đề ngày 15.10.1667, có đoạn như sau :

« Từ ít lâu nay tôi cứ toan tính viết cho Đức Cha, bàn tới ba việc phục vụ lớn mà chúng ta có thể đem lại cho Giáo Hội tại vương quốc này và ba việc ấy chắc sẽ được đón nhận tốt. [...] Việc thứ hai là thiết lập một cộng đoàn các thiếu nữ đồng trinh ; cộng đoàn này có lẽ cũng vậy và sẽ đông hơn cộng đoàn các thầy chủng sinh. Về chuyện này, chúng ta sẽ cần tới một hoặc hai phụ nữ Pháp đức hạnh có ơn đảm nhận việc này. Để đến được nơi này bằng đường biển thì không khó khăn lắm ; các phụ nữ ấy không được kém can đảm hơn các bà nước Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha vì các bà Bồ Đào Nha đi khắp miền Ấn Độ Dương, và các bà Tây Ban Nha còn đi tới tận Phi Luật Tân. »[5]

Đó là lần đầu tiên Đức cha Lambert nói tới « cộng đoàn các thiếu nữ đồng trinh ».

2, Năm 1668 : Ký Sự.

Năm 1668, tại Xiêm La, ĐC Lambert được tin của thừa sai Deydier :

« Chúng tôi nhận được tin tức vào tháng Giêng năm 1668 nhờ một con tàu người Hoà Lan [...] Qua những bức thư của vị thừa sai ấy [tức cha Deydier], chúng tôi hay... có nhiều người đã dâng hiến đức đồng trinh của mình cho Thiên Chúa và một số đông các quả phụ trẻ tuổi đã từ chối việc tái hôn lần thứ hai...»[6]

3, Năm 1669 : Ký Sự.

ĐC Lambert đến Đàng Ngoài cuối tháng 8 năm 1669. Ngài nói với các tín hữu Đàng Ngoài rằng :

« Trái lại, [nếu họ] đón nhận vị giám mục mà Tòa Thánh gửi đến, thì [họ] sẽ có được một mục tử do Đức Giáo Hoàng tuyển chọn. Vị đó, phù hợp theo phận vụ mình, ngay từ bây giờ sẽ lo liệu cho những nhu cầu thiêng liêng của mỗi một người, ban cho mọi người những thừa tác viên Phúc Âm và những linh mục chính xứ gốc gác từ vương quốc này, rồi thiết lập một chủng viện để dạy dỗ những thiếu niên về chữ nghĩa và về đạo đức hầu giúp họ có khả năng phục vụ Giáo Hội này vào một ngày nào đó. Vị giám mục này sẽ chăm sóc các thiếu nữ và các quả phụ nào muốn giữ tiết dục suốt đời mình vì tình yêu họ dành cho Chúa Giêsu Kitô. »[7]

4, Năm 1670 : Văn kiện công đồng Phố Hiến.

Trong văn kiện công đồng Phố Hiến ngày 14.02.1670, điều số 18 :

« Các vị quản trị tỉnh hạt cũng hãy quan tâm nhiều tới các trinh nữ và quả phụ đã tự nguyện quyết định giữ sự tiết dục, dâng mình phụng sự Thiên Chúa và sống chung thành cộng đoàn, theo bản quy luật do chúng tôi ấn định cho mục đích ấy. »[8]

5, Năm 1670 : Ký Sự.

Sau khi đã lập dòng Mến Thánh Giá và trước khi rời Đàng Ngoài để trở lại Xiêm La, ĐC Lambert có lời tổng kết rằng :

« Chúng tôi nhìn mà thán phục những kẻ đã lập gia đình rồi mà tự nguyện rời nhau để chỉ dấn thân cho duy nhất một Thiên Chúa và giữ tiết hạnh trọn đời. Chúng tôi được an ủi thấy nhiều phụ nữ đức hạnh đã khấn hứa giữ một đời sống thánh thiện chung với nhau. »[9]

6, Năm 1670 : Gửi Đức Giáo Hoàng.

Ngày 12.10.1670, tại Xiêm La, ĐC Lambert viết thư gửi Đức Giáo Hoàng tường trình chuyến viếng thăm Đàng Ngoài của ngài. Trong thư này, ngài xin Đức Giáo Hoàng cho phép thành lập dòng MTG với những lời lẽ sau :

« Tu hội thứ hai được lập ra để mưu ích cho những phụ nữ đạo đức ở Đàng Ngoài, mà từ nhiều năm rồi, dường như đang chờ đợi một ai đó chỉ vẽ cho họ con đường dẫn tới đời sống trọn lành hơn. Sau khi tìm hiểu thấu đáo ơn gọi và lòng nhiệt thành của họ đối với các việc thuộc về Thiên Chúa ; nhận định các đặc tính của thể xác, tinh thần và bậc sống mỗi người, cũng như ý định của Thiên Chúa từ trời cao dành cho từng người, con nghĩ rằng không nên từ chối cho họ được quy tụ lại sống chung với nhau, vì lẽ họ đã bắt đầu phụng sự Thiên Chúa thế nào thì cũng sẽ tiếp tục làm như vậy, với một số quy luật được ban thêm cho họ đúng ý Giáo Hội, trong mức độ tình hình quyền lực ngoại giáo chấp nhận họ. »[10]

7, Năm 1670 : Gửi cha Lesley.

Trích thư gửi cha Lesley tại Rôma, đề ngày 20.10.1670 tại Xiêm La :

« Cha cũng sẽ hài lòng không kém khi biết một số quả phụ đạo đức đã đặt nền tảng cho đời sống tu trì tại vương quốc này. Sau khi nhận thấy họ được Thiên Chúa ban ân sủng lôi cuốn, chỉ đường dẫn lối và sau khi cứu xét cách sống của họ từ nhiều năm nay, tôi đã ban cho họ bản quy luật mà nay tôi đệ trình Toà Thánh, để xin kiểm duyệt và xác nhận nếu Toà Thánh xét là thoả đáng. »[11]

8, Năm 1671 : Lập dòng MTG tại An Chỉ.

Trích từ tập Cuộc mạo hiểm sang xứ Đàng Trong (Expéditio in Cochinchinam) của ĐC Lambert (AMEP, tập 876, tr. 687-714) :

« 1. Vài trinh nữ.

Các thừa sai nghe nói về vài trinh nữ là những người dấn thân cho Thiên Chúa bằng lời khấn vĩnh viễn giữ đức đồng trinh.

Một tin thật họa hiếm và bất ngờ về một điều được coi là không thể có được tại vương quốc này đã khiến Đức giám mục Bêryte lo tìm kiếm cẩn thận đâu là sự thực.

Ý định của các trinh nữ thật bí mật, chỉ duy nhất tác giả là Thiên Chúa biết đến mà thôi. Bởi vì các nàng đã một mực từ chối những vị hôn phu do cha mẹ các nàng đề nghị. Chúng tôi thấy có điều lạ thường nào đó ẩn dấu nơi đây đã khiến các nàng từ khước việc hôn nhân.

Sau khi thận trọng điều tra, tám nàng thuộc các làng khác nhau được nhận diện ra. Đó là những nàng đã quyết định sống cuộc đời luôn luôn độc thân. Đức giám mục Bêryte nói rằng ngài mong ước tất cả các nàng hãy đến gặp ngài cùng một lúc để nghe ngài giảng huấn về đời sống nội tâm. Các nàng đã nhanh nhẹn vâng lệnh. Và vào ngày đã định, được tăng sức bằng các bí tích sám hối, thánh thể và thêm sức, cùng với hai bà góa phụ bạn hữu cao niên đi kèm[12], các nàng cùng họp đến trước mặt Đức giám mục. Nàng lớn tuổi nhất được 24 hay 25 tuổi. Các nàng bái lạy sát mặt đất theo kiểu chào bản xứ và khóc lóc sướt mướt. Tiếp theo, các nàng tạ ơn Chúa rất nhân từ đã gửi đến một người, người mà trước đây nhiều năm các nàng đã gửi tin đến[13]. Các nàng tin tưởng người đó là người thầy hướng dẫn sẽ sớm kéo các nàng ra khỏi những mảnh lưới trần gian, và sẽ sớm chỉ dạy các nàng cách thức nào sống đẹp lòng Thiên Chúa, điều duy nhất mà các nàng tha thiết ao ước.

Đức giám mục dò hỏi xem nguyên nhân nào thúc đẩy các nàng tận hiến cho Thiên Chúa. Với lòng trong trắng chân thành lạ thường và lòng khiêm tốn hiếm có, các nàng thổ lộ những tình cảm thầm kín nơi con tim các nàng ra với ngài. Thật rõ ràng là ơn thánh mạnh mẽ và vinh quang của Thiên Chúa đã xuống nơi các nàng mà các nàng đã ưng nhận lấy.

Những lời đối thoại tốt lành và dịu dàng đó mở rộng vào lòng nhân lành Thiên Chúa qua biết bao nhiêu dấu hiệu và chứng tá thầm kín, làm cảm động những người nghe đến nỗi chẳng còn chi đem họ đến sự trọn lành riêng của họ hơn. Chắc chắn rằng những lời thiên thần đó đưa linh hồn lên cao trên chính con người mình, với một hương vị khôn tả về Thiên Chúa, gột bỏ khỏi những tình ý về tất cả mọi sự xấu xa hèn hạ nhất.

Những điều tuyệt diệu đó, đôi khi Đấng Cứu Chuộc trần gian ban cho những người làm việc tông đồ được hưởng nếm, khi ngài cho họ ý thức được những đường lối khôn lường ngài dùng trước mặt những kẻ ngài tuyển chọn. Thực vậy, sự hiểu biết những mầu nhiệm Thiên Chúa phát sinh ra những hoa quả mà chính yếu là đức khiêm nhượng sâu thẳm nhất trong tâm hồn, là lòng thờ kính, là lòng tri ân và là lòng nồng nàn yêu mến thánh ý ngài.

2. Một hội dòng nữ.

Sau những lời đối thoại và trước những khuynh hướng sâu xa, đáng trân trọng và đồng nhất nơi tâm hồn các trinh nữ, Đức giám mục Bêryte nói rằng nếu ngài xét theo sự khôn ngoan con người, ngài không thấy người ta có thể thỏa mãn nguyện vọng của các nàng là sống chung và ra khỏi nhà cha mẹ. Phải vượt lên cao hơn lý trí con người và phải theo những phương tiện mà đức tin sắp sẵn như cầu nguyện, dự thánh lễ, nhận bí tích sám hối, để nhờ đó có thể tìm tới được sự hướng dẫn của Thánh Thần Thiên Chúa. Và một tuần cầu nguyện cửu nhật được công bố để nài xin sự che chở của Đức Thánh Đồng Trinh và cha thánh Giuse vinh hiển.

Tuần cửu nhật chưa chấm dứt, Thiên Chúa đã khứng nhận lời cầu xin của các nữ tỳ hèn mọn. Bởi vì, ngay vào những ngày đầu tiên, đã nẩy ra trong tâm trí Đức giám mục ý tưởng phải biểu lộ ý kiến của ngài cho các góa phụ Lucia và Martha, một bà được 67 tuổi và bà kia được 50 tuổi. Vì chuyện ấy, bà thứ nhất xin giúp nơi ở, của cải, với sự lo lắng và tận tâm săn sóc ; rồi cách đó mấy ngày sau, bà xin dâng cúng một ngôi nhà và khoảng đất kế cạnh chừng 74 thước vuông vức gọn gàng[14].

Đức giám mục Bêryte nghĩ rằng cần giải thích rõ việc sử dụng đất dâng cúng này vì lợi ích cho các bổn đạo.

Sự thể được sắp đặt như vậy, các trinh nữ vội vã rời bỏ trần gian. Đối với phần lớn các nàng, những trở ngại về phía cha mẹ đã được giải quyết. Với một lòng tự nguyện nồng nhiệt, tất cả các nàng cùng đến cư ngụ nơi nhà bà Lucia, nơi ấy họ phụng sự Thiên Chúa một cách đạo đức và chân thành.

3. Một phụ nữ trẻ.

Có một phụ nữ trẻ 25 tuổi mà chồng đã bỏ đi lúc chị chưa trọn 16 tuổi. Sau khi hỏi thăm kỹ lưỡng về cộng đoàn [các nữ tu] này và về nơi chốn rồi, chị ta đến gặp các thừa sai. Được hỏi chị là ai, chị đã trả lời rằng cách đây ba năm, chị đã được cha Hainques rửa tội. Từ ngày đó, chị đã xa tránh chuyện trần gian và hôn nhân.

Chị một mực nài xin được phép dựng một mái nhà nhỏ, bên cạnh ngôi nhà của các trinh nữ, để sống bắt chước theo các trinh nữ bằng hết sức mình. Nhận biết được tư cách và đời sống rất tốt của chị, chúng tôi đã ưng thuận lời nài xin của chị.

Thiên Chúa đã ưng dùng những cách thức đó để thiết lập nên một cộng đoàn các phụ nữ tuyên khấn đời sống đạo đức và khiết tịnh. »[15]

9, Năm 1672 : Chị Agata 45 tuổi.

Trong chuyến thăm Đàng Trong lần đầu, khi rời Hội An trên đường về Xiêm La, ĐC Lambert đi thuyền ghé vào Nước Mặn. Tại đây, ngài gặp chị Agata mà ngài kể chuyện như sau :

« Các thừa sai còn nhận được một niềm vui mừng không phải là nhỏ đến từ ý hướng của chị Agata. Quả thế, chị là người nguyên quán làng Nước Mặn rất gần đây, chị được 45 tuổi. Lúc còn trẻ, chị đã bị lôi cuốn bởi sự dịu dàng của Đấng Hôn Phu Kitô (sponsi Christi), nên chị tận hiến cho Thiên Chúa bằng lời khấn khiết tịnh trọn đời cách đây đã 25 năm, lúc chị mới 20 tuổi. Thể theo cái cao cả của lời khấn nơi chị, chị đã chọn lối sống này. Thực sự, lòng nhân lành rất bao la của Thiên Chúa đã gìn giữ chị, đã dành riêng chị vào việc điều hành và gìn giữ các trinh nữ. Các trinh nữ này đã lui mình ẩn cư trong làng Anki [sic] tỉnh Quảng Nghĩa, nơi cư gia của bà Lucia. Thực sự, chị Agata đã thường xuyên và kiên quyết từ chối sứ mệnh này, chị chỉ nhận trách vụ vì mệnh lệnh của Đức Giám Mục Bêryte mà thôi.

Chị được tuyển chọn vào sứ mệnh ấy như thế, lúc ban đầu Đức Giám Mục xét là đặt chị làm bề trên với hai chị đồng bạn có nhân đức đáng quý, và hơn nữa, con số các trinh nữ, trừ chị bề trên ra, lên tới 12 người. »[16]

10, Năm 1672 : dòng MTG Xiêm La.

« Chúng tôi củng cố ngôi nhà hay cộng đoàn các thiếu nữ trẻ tại Xiêm trong khu trại Thánh Giuse.

Ngày 7 tháng 9 năm 1672.

Nhờ ơn Chúa giúp, mọi trở ngại đã được khắc phục. Những kẻ thù của Chúa Giêsu đã dùng những trở ngại này để thử thách Mẹ Paula đệ Giêsu hầu làm lung lay ý hướng của Mẹ muốn đảm nhận việc chăm sóc các thiếu nữ tận hiến cho Thiên Chúa. Mẹ có tâm hồn mạnh mẽ, gạt bỏ dự tính khôn ngoan trần gian và tình cảm gian dối. Mẹ đã lui chân vào ở trong một căn nhà dọn sẵn cho Mẹ, trong khi chờ đợi người ta làm xong một ngôi nhà rộng lớn và tiện nghi hơn.

Mẹ là một phụ nữ can đảm, độ chừng 40 tuổi. Mẹ đã tìm được một người giúp đỡ và là một đồng bạn 50 tuổi, bà này đã dấn thân vào việc bác ái giúp đỡ tha nhân từ lâu rồi. Họ sẽ sớm điều hành nơi ở cách vững vàng, với ba thiếu nữ trẻ có đạo người bản xứ đã được đón nhận. Từ nhiều ngày nay, bằng ý kiến và công việc, các cô đã trở thành những người đồng bạn. Nhờ cha mẹ và nhờ các thừa sai, các cô xin được phép dâng mình trọn vẹn cho Thiên Chúa trong ngôi nhà này cho đến khi chết, tha thiết xin được những ân huệ như các đồng bạn của các cô. Do vậy, chúng tôi hy vọng sẽ sớm thành lập được một cộng đoàn các trinh nữ chỉ lo việc phụng sự Thiên Chúa.

Một điều duy nhất làm giảm bớt niềm vui chúng tôi, đó là tiền bạc bị cạn kiệt nên không hoàn thành công việc cần thiết cho tới cùng. Tuy nhiên, niềm hy vọng vẫn mạnh mẽ trong lòng chúng tôi, bởi vì Thiên Chúa quan phòng sẽ cho hoàn tất chuyện này. Ngài sẽ ban dư tràn những phương tiện đúng lúc để củng cố và bảo tồn công trình này bằng những cách thức mà chúng tôi không biết được. Các thừa sai đang có ba cộng đoàn như thế này tại xứ Đàng Ngoài và một cộng đoàn tại xứ Đàng Trong, tất cả đều vững vàng.

Chúng tôi đã có kinh nghiệm về sự quan phòng êm ái và dịu dàng của Thiên Chúa trong việc một phụ nữ yêu mến đức hạnh và việc đạo đức đã dâng tặng một ngàn quan tiền. Người phụ nữ này giờ đã tuyên khấn sống đời nữ tu trong ngôi nhà dòng danh tiếng và đạo đức tại Paris[17]. Thật đúng là một tác động của Chúa Thánh Thần, vì bà không hề hay biết gì về chuyện [lập dòng Mến Thánh Giá] này hay về ý hướng của chúng tôi.

Hiệu quả tốt đẹp nhất và căn bản nơi các thừa sai là những hồng ân của Thiên Chúa giúp họ nên can đảm hơn mỗi ngày, dám đảm đương những công việc to lớn hơn hầu tìm sáng danh Chúa, cho dù các công việc này vượt quá sức lực của các thừa sai. »[18]

11, Năm 1675 : Nhật Ký tại Xiêm.

« Ngày 05/02/1675 : Chúng tôi đã săn sóc nhiều bệnh nhân và đã tiếp nhận một thiếu nữ Việt kiều 17 tuổi, cô đã xin được vào nhà các nữ tu (recueillies) để phụng sự Chúa.

Ngày 20/02/1675 : Chúng tôi bận lo giải quyết một chuyện hôn phối của một anh thanh niên trẻ muốn lấy một cô gái trẻ thuộc khu người Bồ Đào Nha. Anh ta đã bắt cóc cô gái, với sự đồng ý của cô ta, nhưng ngược lại ý muốn của hai bà cô của cô gái này là hai người họ hàng còn lại của cô. Chúng tôi đã ra lệnh cho cô gái này phải vào ở trong nhà các nữ tu và chúng tôi sẽ xem xét vụ này. »

Ngày 23/04/1675 : Chúng tôi đã nhận một goá phụ công giáo người Xiêm 40 tuổi và đứa con gái nuôi 10 tuổi của bà vào nhà các nữ tu, và đứa con trai 14 tuổi của bà vào chủng viện. »

Ngày 22/05/1675 : Chị Paula đệ Giêsu, bề trên nhà các nữ tu, đã được phép ra khỏi nhà để đi chữa bệnh tại khu người Bồ Đào Nha.

Ngày 05/06/1675 : Bà vợ của ông thuyền trưởng người Pháp đang bị cầm tù tại Manila đã vào ở trong nhà các nữ tu cùng đứa con gái của bà, với ý định dạy dỗ những trẻ em gái trong niềm kính sợ Thiên Chúa. Đây là điều bà muốn làm ngay cả khi chồng bà trở lại. »[19]

12, Năm 1675 : Nhật Ký tại Đàng Trong.

« Năm 1675.

Ngày 30/10 : Ngày 20 tháng 9 vừa qua, cha Luca Bền người Đàng Trong đã tới mang theo tin tức của cha Bouchard, cha Bourchard đã thành lập một cộng đoàn các trinh nữ tại « Fou Den », gồm 7 người.

Ngày 05/11 : Một trinh nữ 18 tuổi đã nài xin Đức Giám Mục Béryte đưa nàng thoát khỏi sự ép uổng của cha mẹ nàng muốn nàng lấy chồng, điều mà nàng không hề muốn nghe nói tới, bởi vì nàng nói từ khi mới lên 4 tuổi, nàng đã hứa giữ mình đồng trinh vì Thiên Chúa. Nàng tên là Phan-xi-ca và là con gái của ông Dominicô, Đức Giám Mục đã cư ngụ tại nhà ông ta.

Ngày 11/12 : Sau thánh lễ [tại Bàu Tây], Đức Giám Mục Béryte bắt đầu thăm hỏi các trinh nữ đang ở tại nhà thờ dâng kính thánh Giuse. Các chị là 10 người, không kể chị bề trên. Chúng tôi tạ ơn Chúa vì các chị sống rất tốt […] Buổi chiều, chúng tôi tiếp tục thăm hỏi các trinh nữ, chúng tôi nói chuyện riêng với từng chị.

Ngày 12/12 : Đức Giám Mục tiếp tục cuộc thăm hỏi các trinh nữ và truyền cho chị bề trên được tự do thoái nhiệm nếu chị muốn, sau bốn tháng kể từ ngày hôm nay. Ngài truyền cho bốn chị sẽ tuyên khấn vào ngày mai trong thánh lễ và bốn chị khác phải ra khỏi nhà vì đã không muốn ăn cơm chung với các chị khác, mặc dù họ vâng phục tất cả những phận vụ khác.

Ngày 13/12 : Chúng tôi đã nhận các lời khấn của bốn trinh nữ là những người đã được phép cho khấn. Các chị đã tuyên khấn với nhiều gương sáng, khi các tín hữu hội họp lại dự thánh lễ do Đức Giám mục cử hành. […]. Công thức khấn của bốn trinh nữ bằng tiếng Đàng Trong là : Tôi là Anna trong tay Đức Thầy Vispo khấn hứa cùng Đức Chúa Blời giữ mình đồng trinh từ đến khi chết và ở cùng chị em làm mọi sự chung.

Bà Kí, một goá phụ thế giá, đã đến thăm Đức Giám Mục với ba cô gái và một goá phụ là những người đang sống tại nhà bà với nhiều ân sủng Chúa ban. Họ đã xin cho họ một chị bề trên có thể dẫn dắt họ, vì họ thú nhận rằng không ai trong họ có khả năng làm việc này.

Ngày 14/12 : Sau thánh lễ, Đức Giám Mục giã từ các trinh nữ tại chấn song cửa trong nhà thờ, ngài ban cho họ những lời dạy bảo lành thánh. Sau đó, ngài ra đi vào lúc rạng đông, đến xứ Chu Mê […]. Ba trinh nữ có vẻ có nhiều ơn Chúa trong giáo xứ này đã tới trình diện Đức Giám Mục trong nhà thờ lúc ngài đang cầu nguyện. Họ xin ngài cho họ vào cộng đoàn Bàu Tây để dâng hiến trọn đời mình cho Thiên Chúa. Chúng tôi đã tra hỏi họ về việc này và xem xét ơn gọi của họ, ơn gọi của họ xem ra tốt đẹp. Đức Giám Mục đã dạy họ hãy dẫn cha mẹ họ tới gặp ngài.

Ngày 15/12 : Sau khi xem xét ơn gọi của ba trinh nữ và với sự đồng ý của cha mẹ họ, chúng tôi nhận cho họ vào thử luyện tại nhà các goá phụ Bàu Tây, họ sẽ phải đến đó ngày mai hay ngày mốt.

Ngày 17/12 : Chúng tôi cũng đã ban chứng thư cho chị bề trên các bà goá Bàu Tây để nhận vào thực hiện những năm nhà thử : Maria Con Toi 23 tuổi, Anê Sơn Chao 19 tuổi con gái ông Igna-xi-ô, Angêla Con Vươn 20 tuổi, (cả ba đều thuộc làng Chu Mê, đã được nhận ngày 15 tháng này sau khi xem xét ơn gọi của họ), và Êlisabét Con Ven 19 tuổi người Quảng Ngãi, được nhận như vậy ngày hôm qua.

Bốn trinh nữ đã ra khỏi cộng đoàn Bàu Tây, (theo lệnh của Đức Giám Mục, vì họ đã muốn ăn cơm riêng), đến xin Đức Giám Mục cho phép tuyên khấn như bốn chị khác hôm lễ thánh Lucia. Chúng tôi xét là không nên chấp nhận lời xin của họ, chị bề trên nhận thấy các chị này không có tinh thần cộng đoàn.

Chị Bôna Con Doi 20 tuổi, ở nhà bà Kí theo lệnh của cha Courtaulin, đã xin được tuyên khấn (chị đã sống gần 4 năm thử luyện) và xin đến ở với các trinh nữ Bàu Tây. Đức Giám Mục đã chấp nhận lời xin này.

Chị Bôna Con Lan khoảng 21 tuổi, không có cha có mẹ, sống tại nhà bà Kí, đã khóc lóc tha thiết xin vào sống với các trinh nữ Bàu Tây. Chúng tôi đã chấp nhận điều đó, những hoãn việc tuyên khấn lại, vì ngày hôm trước chị đã tuyên bố chỉ muốn tuyên khấn nhưng lo việc ăn uống riêng. Trong số bốn người tại nhà bà Kí, chỉ có chị Bôna Con Doi là người đã tuyên bố sẵn sàng tuyên khấn mà không đòi điều kiện này. Đó là lý do khiến chị đã được nhận cho tuyên khấn.

Ngày 18/12 : Chị Bôna Con Doi đã khấn trong thánh lễ do Đức Giám Mục cử hành theo cùng công thức như bốn chị đã tuyên khấn tại Bàu Tây, trước sự hiện diện của các tín hữu và chị bề trên của chị và một vài trinh nữ khác, các trinh nữ này là những người đã hướng dẫn chị và đã đưa chị về nhà của họ. […]

Lối 8 giờ sáng, chúng tôi ra đi và buổi chiều thì tới một làng nhỏ tên Chao Là có chừng 10o người công giáo. Sau khi Đức Giám Mục đến một lúc, bà goá Lucia 45 tuổi, con gái ông Tôma đã chịu tử vì đạo, cũng đến theo yêu cầu của Đức Giám Mục ngày hôm qua. Ngài muốn thuyết phục bà làm bề trên một số các trinh nữ, việc mà bà được xem là người có khả năng nhất trong vương quốc này. Bà trả lời rằng bà sẽ làm những gì bà có thể để vâng lời vị giám mục của bà, nhưng bà phải dàn xếp việc này với các người họ hàng của bà, vì họ gây ra nhiều ngăn trở. Bà sẽ trả lời trong vài tháng tới. Bà có một người con gái 20 tuổi thuộc số những cô gái hoàn hảo nhất có thể gặp được. Cô gái này đã khấn hứa giữ mình đồng trinh, nhưng họ hàng muốn ép cô phải lập gia đình, điều này làm mẹ cô rất bối rối và cô gái này gần như không để cho ai gặp thấy.

Ngày 22/12 : Chúng tôi gặp thấy một trinh nữ 18 tuổi đã bộc lộ khi xưng tội rằng nàng đã hứa giữ đức khiết tịnh vì Thiên Chúa, khi một ông quan tìm kiếm nàng, nhưng nàng từ chối và nàng lo sợ sự cưỡng bức hung bạo nào đó. Nàng đã nhờ cha mẹ nàng xin với Đức Giám Mục cho nàng ở với các trinh nữ khác, chúng tôi đã cho phép nàng lo liệu việc đó. »[20]

13, Năm 1676 : Nhật Ký tại Đàng Trong.

« Năm 1676.

Ngày 03.01 : Đức Giám Mục ra đi với cha Courtaulin và cha Vachet để đến Hội An. […] Chúng tôi nói chuyện nhiều với nhau để tìm ra được vài phụ nữ có thể dẫn dắt các trinh nữ. Chúng tôi để mắt tới bà Tru và bà Phú Yên đang ở Hội An.

Ngày 04.01 : Bà goá Li cho chúng tôi hay rằng tại làng Ken Rou có một phụ nữ tên là Hêlêna Dy Tiam là người hy sinh làm việc lành phúc đức. Bà Li tin rằng bà ta thích hợp cho việc điều khiển các cô gái. Bà đã ngoài 60 tuổi. Bà không bao giờ lập gia đình, nhưng khi giúp việc cho các cha dòng Tên, bà đã phạm tội với một người học trò của các cha và có một đứa con, chuyện đã rất lâu rồi. Nhưng bà đã sửa đổi bằng những việc tốt lành và bằng gương sáng của bà từ bấy lâu nay.

Ngày 06.01 : Chúng tôi nói với bà Li lo việc điều khiển các cô gái khi bà nhận được chỉ thị của giám mục.

Ngày 19.01 : Cha Courtaulin cho xây một nhà thờ trên mộ của cha Guiart để tín hữu có thể hội họp nhau nơi đó. Đây là một nơi rất an toàn và ẩn khuất. Cha cũng nghĩ sẽ dựng một ngôi nhà cho các trinh nữ, vì cha tìm được một bà goá đức hạnh có thể chăm sóc họ.

Ngày 31.01 : Chúng tôi nhận được thư của cha Courtaulin báo tin đang lo làm một ngôi nhà thờ tại Bàu Nghệ và một căn nhà cạnh đó để lập một cộng đoàn các trinh nữ.

Ngày 26.02 : Đức Giám Mục kín đáo đi đến con thuyền của cha Courtaulin. Cha này cho ngài biết những phúc lành lớn của Thiên Chúa ban cho cha từ khi cha ở Bàu Nghệ và vùng phụ cận. Cha đã rửa tội 365 người, xây một nhà thờ và kế cận đó là một căn nhà cộng đoàn các trinh nữ Mến Thánh Giá, hiện nay cha đặt một bà bề trên và ba trinh nữ xuất sắc tại đó.

Ngày 29.02 : Chúng tôi đã nhận một trinh nữ vào thử luyện, trong mấy hôm nữa nàng sẽ được cha nàng dẫn tới Bàu Tây ở với các trinh nữ khác trong vòng 3 tháng, sau đó nàng sẽ được gửi tới căn nhà mới tại Bàu Nghệ.

Ngày 02.03 : Bà bề trên các trinh nữ Bàu Nghệ đã tới thăm Đức Giám Mục với ba cô gái của bà, chúng tôi rất cảm kích.

Ngày 03.03 : Chúng tôi cho bà bề trên Bàu Nghệ và các cô gái của bà ra về sau khi họ lãnh nhận các bí tích.

Ngày 11.03 : Chúng tôi nhận được thư của cha Courtaulin đề ngày 3 tháng này. Cha đã tiếp các trinh nữ Quảng Ngãi đến thăm, cha nói về họ cách tích cực rằng họ sống một cách lành thánh và họ cần chúng tôi cầm chừng lại trong việc hy sinh hãm mình mà họ muốn làm cách đặc biệt. Chúng tôi quyết định viết thư cho các giáo hữu Bàu Nghệ nói họ đừng vội vàng hội họp nhau trong ngôi nhà thờ mới họ làm và hãy chờ đợi, để chúng tôi sử dụng cho các trinh nữ, các trinh nữ này sẽ sớm đến cư trú nơi đó.

Ngày 24.03 : Chúng tôi nói bà Hêlêna xứ Bát Quy hãy ở với các trinh nữ tại nhà của bà cho tới khi cha Courtaulin trở lại. Cha này đã chọn bà làm bề trên ngôi nhà thứ hai của các trinh nữ mà chúng tôi đã quyết định dựng ra tại Bàu Nghệ nơi an táng cha Guiart.

Ngày 20.04 : Với sự đồng ý của dân làng Lâm Tuyền, chúng tôi quyết định lập nhà cộng đoàn các trinh nữ kế cận nhà thờ. »[21]

14, Năm 1676 : Đức cha Laval.

Trích thư gửi ĐC Laval, đại diện tông toà Canada. Thư đề ngày 14.11.1676 tại Xiêm La :

« Tháng năm vừa qua tôi rời miền Đàng Trong yêu quý của tôi. Với niềm vui khôn tả, tôi thăm viếng hết thảy các tín hữu trong nhiều tỉnh hạt. Tôi được thấy một cộng đoàn trinh nữ gồm những người đang vươn lên cao trên đường tiến đến cùng Thiên Chúa. Lòng sốt sắng của họ cần được hạn chế bớt. »[22]

15, Năm 1676 : Bà Longueville.

Trích thư gửi bà công tước Longueville tại thành phố Rouen (Pháp). Thư đề ngày 16.11.1676 tại Xiêm La :

« Bà Công Tước sẽ vui mừng nghe tôi đưa tin cho bà hay về vài cộng đoàn trinh nữ của chúng tôi ở Đàng Trong, gồm những tâm hồn ưu tú. Họ mang danh hiệu Chị Em Mến Thánh Giá Chúa Cứu Thế, Đấng mà họ cố gắng noi theo đời sống và các đau khổ của Người. »[23]

16, Năm 1677 : Nhật Ký tại Xiêm.

Trích từ Nhật Ký của ĐC Lambert :

« Ngày 29.04.1677. – Chúng tôi đã đọc một lá thư của các nữ tu Mến Thánh Giá Con Thiên Chúa viết cho Đức Giám Mục Béryte, số các nữ tu là 82 người, lá thư đầy sự dịu dàng an ủi. »

« Ngày 18.07.1677. – Chúng tôi đã truyền chức linh mục cho hai thầy giảng phó tế người Đàng Ngoài và chúng tôi đã hỏi chuyện tường tận hai tân linh mục về việc truyền giáo tại xứ đó và về các nhà nữ tu Mến Thánh Giá, tất cả là 6 nhà, các nữ tu giữ một đời sống đầy gương sáng. »[24]

Tại nhà dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt miền Portland Oregon,

Ngày 6 tháng 7 năm 2015.

 



[1] Xem Adrien Launay, Histoire de la Mission du Tonkin. Documents historiques, (1658-1717), Paris, Maisonneuve, 1927, (rééditions en 2000), tr. 108.

[2] Jean-Joseph Rousseille, Collectanae : constitutionem, decretorum, indultorum, instructionum Sanctae Sedis, Hongkong, 1905, tr. 439-440.

[3] Bản dịch của Nhóm Nghiên Cứu, Tiểu Sử - Bút Tích Đức Cha Phêrô-Maria Lambert de la Motte, Đấng Sáng Lập Dòng Mến Thánh Giá, 1998, tr. 116.

[4] Adrien Launay, Histoire de la Mission de Cochinchine. Documents historiques, tome I, (1658-1728), Paris, Téqui, 1923, tr. 275.

[5] Trích thư gửi Đức cha Pallu, ngày 19.10.1667 : AMEP, tập 857, tr. 224-225.

[6] AMEP, tập 121, tr. 746 (hoặc : AMEP, tập 677, tr. 43).

[7] AMEP, tập 677, tr. 203.

[8] AMEP, tập 677, tr. 207. Bản dịch của Nhóm Nghiên Cứu, tr. 116.

[9] AMEP, tập 677, tr. 215.

[10] AMEP, tập 650, tr. 186. Bản dịch của Nhóm Nghiên Cứu, tr. 131.

[11] AMEP, tập 858, tr. 189. Bản dịch của Nhóm Nghiên Cứu, tr. 135.

[12] Hai bà góa này không thuộc nhóm những nữ tu Mến Thánh Giá đầu tiên tại Đàng Trong. Lớn tuổi và đáng kính, họ chỉ là người đứng ra dẫn các chị em trẻ tới ra mắt Đức cha Lambert theo phong tục cổ truyền của Việt Nam mà thôi.

[13] Các nàng « đã cho viết đến ngài ở Xiêm La, mấy năm trước, qua cha Hainques, ý định của họ, theo đó họ đã khám phá ra niềm vui được tận hiến cho Thiên Chúa một cách trọn hảo nhất. » (Đào Quang Toản, Mến Thánh Giá thế kỷ 17, xuất bản năm 1998, tr. 32).

[14] « adjuncti agri quinquaginta circiter passibus in quadrum constantis ».

[15] AMEP, tập 876, tr. 692-693.

[16] AMEP, tập 876, tr. 696.

[17] Mẹ Jeanne de Jésus-Maria, dòng Kín tại Paris, đã gửi cho ĐC Lambert 1.000 quan tiền ê-cu (xem : Adrien Launay, Histoire de la Mission de Siam 1662-1811, Paris, Téqui, 1920, tr. 19).

[18] AMEP, tập 876, tr. 708-709.

[19] AMEP, tập 877, tr. 555, 558 và 560.

[20] AMEP, tập 877, tr. 569, 572-575.

[21] AMEP, tập 877, tr. 576-584.

[22] AMEP, tập 858, tr. 354. Bản dịch của Nhóm Nghiên Cứu, tr. 138.

[23] AMEP, tập 419, tr. 295. Bản dịch của Nhóm Nghiên Cứu, tr. 139 (chúng tôi sửa « Bá Tước » thành « Công Tước », và « một cộng đoàn » thành « vài cộng đoàn » cho đúng với nguyên bản tiếng Pháp).

[24] AMEP, tập 677, tr. 599 và 602.